Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Thuế nói tiếng Việt

Với những gì đã thể hiện khi vừa nhậm chức Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải, em “bồ kết”, hâm mộ bác Đinh La Thăng quá. Em đã đinh ninh rằng, một thế hệ lãnh đạo mới đã xuất hiện, một mẫu người “anh hùng thời đại” như mình hằng suy niệm đã có. Có lẽ, đất nước  có phúc, dân ta có phần rồi.

Với những công việc chỉ đạo, thực hiện của các bác Lãnh đạo cao cấp thì dạng tá điền chiếu cố như em chả dám ý kiến, ý cò gì (vì em sợ lắm), em chỉ dám một lòng một dạ “học  tập và làm theo” thôi. 

Hôm nay, sở dĩ em liều lĩnh nói đến bác Đinh La Thăng chẳng qua cũng vì cái Đề án thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân và phí ô tô vào trung tâm thành phố giờ cao điểm mà bác đang đưa ra mà thôi. 
Đơn giản là vì, cái Đề án ấy (nếu được Thông qua) thì nó tác động trực tiếp đến đồng tiền, bát gạo, miếng cơm manh áo của em và thằng cu nhà em. Bản thân em mỗi tháng cũng mất 46.000 đồng (nhà em chỉ có loại xe máy dưới 175 phân khối). Vậy là một năm em sẽ mất 500 nghìn đồng cho 1 cái thuế có tên là Phí lưu hành phương tiện giao thông.

Trong buổi trả lời trực tiếp chiều 12/1/2012, bác  Đinh La Thăng kính mến của em nói rằng: “Chúng tôi đã có tính toán rất kỹ, không cào bằng, tính đến thực tế của giao thông, mức thu nhập của người dân, nhu cầu đi lại và kinh nghiệm các nước… Mức phí lưu hành xe máy chia làm 2 loại, loại dưới 175 phân khối mức 500.000 đồng một năm, như vậy mỗi tháng khoảng 46 nghìn đồng, tương đương khoảng 2 lít xăng. Chúng tôi nghĩ mức này là phù hợp. Với loại xe trên 175 phân khối, mức phí là 1 triệu đồng…”

Vâng, 500 nghìn/1 năm, với những người khác thì em không biết họ có ok và thoải mái không, chứ với em thì là vấn đề nguy nan đấy. Nó bằng một hộp sữa cho thằng con zai nhà em. Nó bằng 1/10 lương tháng của em đấy. Hiện tại em đang vã mồ hôi xoay sở để đảm bảo cơm áo hàng ngày, vốn đã rất “khiêm tốn và ái ngại” rồi, nay lại thêm một khoản “xe phí” này nữa thì đúng là…

Hôm qua, em có ngồi nhẩm và xem lại các loại phí, thuế em phải nộp, cũng không ít (nhưng các loại thuế ở xứ Thiên đường ngày nay thì vẫn không nhiều bằng Thuế thời Pháp thuộc).
Hiện tại, mỗi một thằng tá điền chiếu cố như em đã phải lo chi tiêu đóng góp đủ các loại trên đời mà thu không đủ tiêu mà nay nếu  bỗng dưng… nộp phí lưu hành phương tiện giao thông nữa thì coi như em bị dồn đến ngõ cụt. Tích tiểu, thành đại. Nhiều món chi tiêu nhỏ sẽ thành một món chi tiêu lớn.
Những khoản hiện tại phải chi tiêu, em chả dám trình bày, vì nó rõ mồn một ra đấy rồi. Nhưng cái phí lưu hành phương tiện giao thông này, theo như cách trình bày của bác Bộ trưởng em thấy nó …TRỜI ƠI thế nào ấy.

Cái mục tiêu của việc thu phí này, theo như  bác Đinh La Thăng nói “không chỉ để giảm ùn tắc giao thông, mà còn  tạo ra nguồn thu để đầu tư trở lại hạ tầng, để phục vụ người dân tốt hơn.”  khiến em càng thấy u buồn và dễ có nguy cơ bị bệnh trầm cảm. 

Muốn giảm ùn tắc giao thông  cần có quy hoạch đô thị thật khoa học và hiện đại
Muốn giảm ùn tắc giao thông, cần có Luật và thực hiện luật giao thông thật nghiêm; cần có chế tài xử phạt vi phạm giao thông thật nặng và cần nâng cao ý thức tham gia giao thông của người dân, chứ đâu phải là thu phí lưu hành của phương tiện giao thông? 

Nếu phương tiện giao thông mà biết nói, e rằng nó cũng lên tiếng đấy.

Ý thứ 2 của bác Đinh La Thăng là “tạo ra nguồn thu để đầu tư trở lại hạ tầng, để phục vụ người dân tốt hơn” làm em lại nhớ đến câu nói đùa của một bác bán nước chè bên đường.

Bác ấy bảo, ngày xưa, thời Pháp thuộc, bọn nó đã có Dự án thu phí nói tiếng Việt. Nó bảo, thu phí nói tiếng Việt để người dân chịu khó học tiếng Pháp và có nguồn kinh phí để bảo tồn, gìn giữ và phát huy tiếng Việt cho người Việt. 

Cũng may là mấy bác bên Bộ Văn hóa, Bộ 4T chưa nghe thấy Dự án này, chứ nếu biết mà thực hiện thì em lại càng lo. 

Lo vì lại phải tham gia đóng góp một khoản tiền để các cơ quan “đầu tư trở lại, phục vụ người dân”

Tuy nhiên, nghĩ lại, dân như em giờ cũng sướng, luôn được quan tâm đấy chứ. Dù gì, em vẫn “bồ kết” bác Đinh La Thăng, chỉ có điều, nếu cái Đề án của bác được Thông qua thì khổ cho cái thằng nông dân như em quá. Đời đã nát rồi lại nát hơn chứ chả phải như ông Vũ Hoàng Chương có câu thơ rằng” Đời vắng em rồi say với ai…”


1/2012
Nguyễn Học

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

Khi nông dân phản kháng



Có lẽ tôi phải dùng từ PHẢN KHÁNG để nói một hành động của nông dân Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng, Hải Phòng mới đây và những nông dân ở Thái Bình năm 1997.

Vì sao nông dân lại phản kháng và vì sao tôi lại nghĩ đến 1 cá nhân và 1 phong trào nông dân.

Cái gì cũng có lí do.

Nói về người nông dân, chúng ta đều có thể thống nhất với nhau rằng, họ là những người cần cù, siêng làm, hiền lành và chất phác. Họ cũng là thành phần không thể thiếu để dẫn đến thắng lợi của mọi cuộc cách mạng ở Việt Nam tự cổ chí kim. Họ cũng là những cư dân có sức sống bền bỉ, vĩ đại nhất của đất nước này. Chính họ, không ai khác là những hậu duệ của cư dân lúa nước nền văn minh Sông Hồng mà ngày nay, chúng ta vẫn hằng tự hào.

Nông dân là thế, truyền thống là thế, con người, bản chất họ là thế, ấy thế nhưng, tại sao họ lại có thể sẵn sàng cầm súng để bắn trả vào lực lượng công an đến “giải phóng mặt bằng” trên khu đầm họ đã đổ mồ hôi mấy chục năm? Tại sao người nông dân lại có thể tập hợp hàng nghìn người để biểu tình, bắt giam lãnh đạo huyện và đập đổ tường dậu của cơ quan lãnh đạo huyện như ở Quỳnh Phụ Thái Bình năm 1997?


Không hiểu sao câu chuyện về anh nông dân Đoàn Văn Vươn cứ làm dư luận xã hội quan tâm và đã có người so sánh anh với anh Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan với câu triết lý về đời sống nổi tiếng “Sống để làm gì”

Hành động chống trả lực lượng công an, hành động đặt mìn, bắn trả và làm thương tích 4 chiến sĩ công an và 2 chiến sĩ bộ đội của em trai anh Đoàn Văn Vươn và những người khác sẽ bị lên án và sẽ bị xử theo pháp luật. Điều đó không thể chối cãi và không ai có thể/được bênh vực.

Với cá nhân tôi, rõ ràng, ai làm sai, người ấy chịu. Pháp luật sẽ nghiêm minh và phải nghiêm minh.

Nhưng, với tư cách của người nông dân nghĩ về người nông dân thì tôi đặt câu hỏi: Vì đâu lại nên nỗi đó? Vì đâu người nông dân Đoàn Văn Vươn và anh em, gia đình vốn chăm chút làm ăn, vốn không có tiền án, tiền sự, họ được hàng xóm láng giềng nghĩ tốt và không có gì mất lòng thế mà trong một buổi sáng đã có hành động phản kháng quyết liệt dữ dội (có thể nói là có chút căm hờn), phản kháng mang tính sinh – tử một mất một còn, hơn của những người làm cách mạng xưa kia là dám đặt mìn, dùng súng bắn trả cả một lực lượng đại diện cho chính quyền đến giải tỏa khu đất họ đang làm ăn…

Lịch sử của đất nước đã chứng minh rằng, mỗi khi người nông dân đã phải “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” là lúc lòng người đã hừng hực hờn căm, ý chí đã quật cường và dường như, đó là lúc họ đã xác định chỉ còn một con đường duy nhất: Chiến đấu, dù có thể trong tay họ không có một tấc sắt.

Nếu như trong văn học, hình tượng anh Pha – người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945 phản kháng bằng cách giằng láy đòn càn phang một nhát thật mạnh vào đầu lão Nghị Lại thì trong lịch sử Việt Nam đã cho thấy các cuộc biểu tình, đấu tranh của nông dân dữ dội và hào hùng hơn nhiều.…

Dù biết rằng, những hành động phản kháng đó sẽ thất bại, thậm chí sẽ thiệt mạng, nhưng người nông dân vẫn quyết chiến đấu đến cùng. Đó chính là ở tinh thần yêu nước, yêu ruộng đồng, yêu quê hương, yêu mảnh vườn đã gắn với họ suốt cả cuộc đời.

Họ dám làm, dám hành động và cũng dám chấp nhận.

Phẩm chất cao quý của người nông dân là ở chỗ đó.              

Tức nước, vỡ bờ - đó là bài học của các cụ từ ngàn xưa để lại. Con giun xéo lắm cũng oằn. Người ta sức chịu đựng cũng có giới hạn. Cuộc đấu tranh của nông dân Thái Bình năm 1997 là bài học lịch sử cho thấy rằng, khi người nông dân đã kiên trì và nhẫn nại đến mức không thể chịu hơn được nữa thì họ phải đấu tranh. Phản kháng của họ đã làm cho giới chức cầm quyền cũng phải công nhận một điều là nông dân đã phải chịu quá nhiều loại thuế, giới quan lại địa phương thi nhau xâu xé, tham nhũng… Và, bây giờ thì chính tỉnh Thái Bình cũng coi đó là một cuộc đấu tranh cần ghi vào lịch sử (đã được chi chép trong cuốn Địa chí Thái Bình, xuất bản gần đây)

Có thể nói rằng, sự kiện của gia đình anh Đoàn Văn Vươn là một tiếng chuông cảnh báo của người nông dân về sự phản kháng của họ.  

Chia sẻ những nỗi đau thương tích của 06 chiến sĩ công an, quân đội, nhưng chúng ta cũng nên chia sẻ với tình cảnh của người nông dân bị mất ruộng, mất đầm, không còn gì để làm ăn sinh sống…

Cái cốt yếu là đi tìm bản chất sự việc, bản chất vấn đề và cái sâu xa hơn là đi tìm nguyên nhân nội tại của những xung đột về đất đai, xung đột của nông dân với chính quyền trong thời gian gần đây.

Khi giang hồ xã hội đen nổ súng vào lực lượng công an thì không có gì bất ngờ, nhưng khi người nông dân không có tiền án tiền sự, làm ăn bình thường mà liều mình nổ súng vào lực lượng chức năng, công an thì đúng là xã hội đã đến lúc cần nghiêm túc nhìn nhận nguyên nhân và bản chất của vấn đề. Nó không còn là kiểu manh động đao búa giang hồ, mà nó bắt đầu có tính chất của một sự phản kháng, một tinh thần  nông dân phản kháng theo dòng truyền thống rồi.

Vấn đề cơ bản bây giờ là cần  tìm và mổ xẻ những khó khăn, nguyện vọng của người nông dân khi họ bị thu hồi đất đai, đầm phá; vấn đề cần giải quyết việc làm và đời sống cho họ như thế nào; vấn đề cần giải tỏa đất đâi theo phương pháp nào cho hài hòa, dễ chịu cho cả Nhà nước và Nhân dân, mặc dù vẫn biết rằng, đất đai là sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý, nhân dân sử dụng.

Rất có thể 100 năm hay 200 năm hoặc 300 năm sau này, lịch sử nông dân Việt Nam sẽ có những dòng đại khái như:

Ngày  5/1/2012, 03 nông dân huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đã dùng mìn và súng hoa cải chống trả đoàn công tác của UBND huyện Tiên Lãng, Hải Phòng  đến cưỡng chế thu hồi hơn 50ha đầm nuôi thủy sản, trồng cây ăn quả tại vùng bãi bồi ven của gia đình Đoàn Văn Vươn, làm 04 chiến sĩ công an bị thương….


HN, đêm 10/01/2012
Nguyễn Học

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Nghề nông và tổ nghề

Ảnh: Nguyễn Học


Ngày nay, với sự hỗ trợ đặc biệt và hiệu quả của Internet, Google thì việc tìm hiểu về tổ nghề của 1 nghề nào đó là điều không phải khó khăn. Như nghề nông chẳng hạn, với cư dân khu vực phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, mỗi khi tìm hiểu tổ nghề nông, chúng ta sẽ có hàng loạt dữ liệu như sau:

Ông tổ của nghề nông là Thần Nông. Thần Nông, hay Viêm Đế, là một trong các vị vua Trung Hoa đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc (tức Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc). 

Theo truyền thuyết phương nam thì Thần Nông là tổ tiên năm đời của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân và Âu Cơ được coi là tổ tiên của người Việt.
Ảnh: Nguyễn Học

Có tài liệu cho rằng Hoàng Đế và Thần Nông là một người. Có tài liệu thì lại cho rằng Phục Hi, Thần Nông và Hoàng Đế là ba người khác nhau (gọi chung là Tam Hoàng). Thực ra tất cả chỉ đều là huyền thoại, không có gì đảm bảo là họ là ba người hay chỉ là một hoặc hai người.

Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Trung Hoa là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên các dữ liệu về sử học, thần thoại học, ngôn ngữ học, đã giả thiết rằng Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ phương nam (từ phía nam sông Dương Tử xuống đến hết Việt Nam ngày nay, đó là vùng đất cư trú của cư dân Bách Việt). 


Sau khi nước Trung Hoa mở rộng từ phía tây sang phía đông (giai đoạn một), rồi từ phía bắc xuống phía nam (giai đoạn hai) thì Thần Nông được người Trung Hoa sát nhập vào văn hóa của họ và được coi là một trong các "ông vua" đầu tiên của họ. Thực ra trước đó, Thần Nông đã được coi là "ông tổ" của một số bộ tộc Bách Việt. Và sau này, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa rất mạnh, nhiều người lầm tưởng người Việt nhận một ông vua Trung Hoa làm ông tổ của mình.

Các dữ liệu ủng hộ giả thuyết trên:

* Thần Nông tức là vị thần về nông nghiệp, vị thần này thường được hình dung cưỡi trâu để đi lại nên vị thần gắn liền với văn hóa lúa nước.

* Thần Nông còn có một tên gọi khác là Viêm Đế (vua xứ nóng - vua phương nam), và được coi là vị thần cai quản phương nam.

* Cách đọc từ Thần Nông là cách đọc của phương nam, người phương bắc sẽ có xu hướng đọc là Nông Thần.

Tuy nhiên, điều này bị phản bác rằng từ Thần Nông vẫn hiểu được theo ngữ pháp phương bắc, và có nghĩa là người nông phu-thần linh.
* Truyền thuyết của một số dân tộc thiểu số của Việt Nam (ít bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa) như dân tộc Mèo cũng coi Thần Nông là ông tổ của nghề trồng lúa nước.
Với người phương Đông là như thế, còn với người Phương Tây thì sao?

Trong đoạn Ca-in và A-ben Sách Kinh thánh Sáng thế (Cựu ước) có chép rằng:

“Con người ăn ở với bà E-va, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Ca-in. Bà nói:
-         Nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người.
Bà lại sinh ra A-ben là em. A-ben làm nghề chăn chiên, còn Ca-in làm nghề cày cấy đất đai. Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên Đức Chúa. A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. Đức Chúa đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông, nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt. Đức Chúa phán với Ca-in:
-         Tại sao người giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? Nếu ngươi hành động tốt có phải ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi có hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó.
Ca-in nói với em là A-ben:
-         Chúng mình ra ngoài đồng đi!
Và khi 2 người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình.
Đức Chúa phán với Ca-in:
-         A-ben, em ngươi đâu rồi?
Ca-in thưa:
-         Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?
Đức Chúa phán:
-         Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta. Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút láy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, bó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ  lang thang phiêu bạt trên mặt đất.
Ca-in thưa với Đức Chúa:
-         Hình phạt dành cho con quá nặng không thể mang nổi. Đây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất và bất cứ ai gặp con sẽ giết con…” (1)

Theo đoạn trích này của Kinh thánh, ta tạm kết luận rằng, theo Kinh Thánh thì ông tổ của nghề chăn nuôi là A-ben, ông tổ ngành trồng trọt là Ca-in. Và 2 anh em A-ben và Ca-in là ông tổ của nghề nông (trồng trọt và chăn nuôi).

Nói về 2 nhân vật này, GS Thần học Hans Kung viết:

“A-ben và Ca-in: Hai nhân vật của Thánh Kinh, được nói đến trong sách Sáng thế. Theo Thánh Kinh đây là hai anh em, con của cặp vợ chồng đầu tiên của loài người là Adam và Eva. Ca-in là anh, làm nghề nông, A-ben là em làm nghề chăn nuôi.Cả hai cùng dâng lễ vật lên Thiên Chúa. Nhưng lễ vật A-ben dâng được ThiênChúa chấp nhận, trong khi lễ vật của Ca-in thì không. Thư gửi tín hữu Do Thái giải thích: A-ben dâng lễ vật với lòng tin, còn Ca-in là kẻ không tốt lành” (2)

Cũng câu chuyện về ông tổ nghề nông này, nhà báo Thomas Friedman lại có cách lí giả thú vị riêng. Ông viết:

“Cuộc đấu tranh giữ chiếcxe Lexus và cây Ôliu thực ra là phiên bản hiện đại của một câu chuyện cổ xưa, có thể nói là một trong những câu chuyện xưa nhất – Vì sao Ca-in giết A-ben. Kinh thánh Do Thái có viết trong sách Cựu ước “Ca-in nói với em là A-ben; và khi họ ra đồng, Ca-in bước tới và giết A-ben, người em của mình. Khi Chúa hỏi Ca-in, “Em của con đâu?”, Ca-in đáp “Con không biết. Con có phải là người canh giữ em con đâu” Và Đức Chúa nói “Con đã làm điều gì vậy? Tiếng của máu huyết trong người em con trên đất đang vang vọng đến ta”

Nếu đọc kĩ đoạn Kinh Thánh đó, bạn sẽ thấy Kinh Thánh Do Thái không bao giờ cho chúng ta biết Ca-in đã nói gì vớiA-ben. Câu nguyên văn là: “Ca-in nói với em là A-ben” – chấm hết.

Chúng ta không biết về cuộc nói chuyện bí mật đó. Điều gì đã xảy ra trong cuộc đối thoại làm cho Ca-in nổi nóng và giết người em của mình? Giáo sư Thần học của tôi (tức của Friedman- Nguyễn Học chú), giáo sĩ Tzvi Marz dạy tôi rằng những giáo sĩ hiền triết giỏi Cựu ước Rabbath, trong những giờ bình giảng căn bản về Kinh Thánh, có đưa ra 3 lời giải thích cơ bản về nội dung đối thoại.

Một là hai anh em đã cãi nhau về một người đàn bà – đó là Eva. Lúc đó chỉ có một người đàn bà trên trái đất, đó là mẹ của chúng, và cả hai cãi nhau xem ai là người được quyền cưới bà ta. Họ cãi nhau về vấn đề giải quyết tình dục và sinh sản.

 Lời giải thích thứ hai ấn định rằng Ca-in và A-ben đã chia đôi thế giới, trong đó Ca-in sở hữu toàn bộ đất đai – như Kinh Thánh nói “Ca-in trở thành người thợ cày trên mặt đất” – và A-ben sở hữu toàn bộ động sản cùng gia súc – Kinh Thánh nói, “Aben trở thành người chăn cừu”. Và theo lời giải thích này thì Ca-in nói với A-ben hãy mang đàn cừu và biến khỏi đất của anh ta.

Điều này dẫn đến xung đột, mà khi đã lên đỉnh điểm Ca-in đâm chết người em của mình.
Hai anh em tranh chấp quyền lợi phát triển kinh tế  và đời sống vật chất.

Lời giải thích thứ ba cho rằng hai anh em đã chia đôi đàng hoàng mọi thứ trên thế giới, trừ một điều nan giải: ngôi đền, biểu trưng của tôn giáo và bản sắc văn hóa của hai anh em sẽ được xây cất ở đâu? Mỗi người đều muốn kiểm soát ngôi đền phải được xây trong vườn Ôliu của mình. Họ tranh chấp về vấn đề bản sắc và ai sẽ là người giữ giềng mối gia đình” (3)

Như vậy, trong các câu chuyện về tổ nghề Nông ở trên cho thấy: Nếu cứ như phương Đông của ta giải thích thì tổ là Thần Nông thì ít thấy các mâu thuẫn xã hội, các vụ giết người đã máu, các tranh chấp quyền lợi, văn hóa…

Nhưng, theo câu chuyện của Thánh Kinh kể trên thì đúng là Tổ nghề và câu chuyện của Tổ nghề đã có những dấu tích của sự MẤT ĐOÀN KẾT, CHIA RẼ và PHỨC TẠP rồi.


Khi mà Ca-in đâm chết em mình là A-ben thì cho thấy một cái gì đó bất ổn giữa trồng trọt và chăn nuôi. Theo 3 cách lí giải mà Friedman đưa ra, đồng nghĩa với nó là 3 kết luận rút ra từ chi tiết này, đó là:

+ Họ cãi nhau về vấn đề giải quyết tình dục và sinh sản
+ Hai anh em tranh chấp quyền lợi phát triển kinh tế  và đời sống vật chất.
+ Họ tranh chấp về vấn đề bản sắc và ai sẽ là người giữ giềng mối gia đình

Kết luận đầu tiên và cuối cùng có thể đúng trong từng trường hợp, hoàn cảnh, nhưng ứng với thời đại ngày nay thì kết luận thứ 2 vẫn còn nguyên giá trị. 2 anh em Ca-in và A-ben (LÀ ĐẠI DIỆN CHO ngành nông nghiệp) vẫn và đang chấp quyền lợi phát triển kinh tế  và đời sống vật chất.

Câu chuyện của Ca-in và A-bel dù có mang tinh thần tôn giáo, song bài học của câu chuyện để lại vô cùng lớn và càng ngẫm càng thấy lấp lánh những lớp nghĩa giải thích về con người, tham vọng, tội ác. 

Ngẫm kĩ mới thấy, tại sao ngày nay nhiều quan tham oánh nhau, tranh chấp nhau về tiền bạc, địa vị thế? Tại sao có nhiều quan tham lam một cách vô độ đến thế. 

Xem các tài liệu nghiên cứu một phát hiện thú vị là trong khi các ngành nghề khác thường rất tự hào về Tổ nghề và rất say sưa với những huyền thoại, mỹ từ về Tổ nghề thì với Nghề Nông nghiệp lại rất ít hiếm thấy những huyền thoại, mĩ từ đó (kể cả Phương Đông).

 Việt Nam tự hào là một dân tộc có nền văn minh lúa nước, trong khu vực thuộc về cái nôi của lịch sử văn minh nông nghiệp song, xem các tư liệu, Tổ nghề nông cũng ít khi đề cập tới! 

Đọc câu chuyện của anh em Ca-in và A-bel, càng ngẫm về nông nghiệp của ta và bộ máy quan lại của ta hiện nay. Từ thượng nguồn, các Tổ nghề đã TRANH GIÀNH, CHÉM GIẾT NHAU, MẤT ĐOÀN KẾT như thế, trách chi những thân phận công dân hạng 2 của chúng ta như ngày nay?

Âu cũng là một tất yếu trong tư duy nhận thức!

NGUYỄN HỌC – 11/2011



Chú thích:

(1)   Tòa giám mục Nha Trang. Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước  tuyển chọn. NXB Tôn giáo. HN 2001, trang 22-23.
(2)   Hans Kung- Các nhà tư tưởng lớn của Kito giáo. NXB Tri thức. HN 2010, trang 361.
(3)   Thomas Friedman – Chiếc Lexus và cây Ôliu. NXB Khoa học Xã hội. HN. 2005, trang 83-84.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

CƯỚP ĐƯỜNG

Giật tít là Cướp đường, hẳn ai cũng nghĩ là ra đường bị cướp của cải như; đồng hồ, điện thoại, túi xách... gì đó. Nhưng lại không hẳn như vậy.

Cái "Cướp đường" muốn nói ở đây là Cướp đường hiểu theo nghĩa gốc - tức là Cướp  (phần) đường đi; chứ không phải là Cướp (ở trên) đường theo nghĩa mọi người vẫn dùng. 

Cướp cái phần đường đi, với cư dân thành thị văn minh ở những nước phát triển thì chắc không có. Mà có nghe đến cũng cảm thấy có gì đó là lạ...

Nhưng ở cái Thủ đô Hà Nội nghìn năm văn hiến, văn vật, văn minh (nói chung đủ các loại Văn đứng đầu, sau đó thì có các từ gì nữa thì ..tự hiểu) này, cái việc bị cướp phần đường vẫn hay thường xảy ra. 

Vậy, cướp cái phần đường đi (của người khác) là gì? 

Đó là hành động chen lấn, đi tràn sang phần đường của người đi ngược chiều mỗi khi tắc đường. 

Một ví dụ sinh động là sáng nào cũng vậy, cứ đến ngã tư vào giờ cao điểm là y như rằng tắc đường và bị cướp đường. Khi có hiện tượng tắc đường (bởi từ sai lầm của một phương tiện nào đó) thì như một sự mặc nhiên, những người đi ô tô, xe máy, chủ yếu là xe máy đi tràn sang phần đường của người đi ngược chiều, có lúc tràn 1/2, có lúc tràn cả phần đường, nhìn vào tưởng như đường một chiều. 

Khi mà chỗ tắc chính được giải tỏa thì những người đi ngược đường không còn lối nào mà đi, vì những người ở phần đường này đã cướp trắng trợn rồi. Trong cái không khí oi ngạt của mùa hè và những khí nóng tỏa ra từ các pô xe máy, ô tô ấy, ai ai cũng ngột ngạt và khó chịu đến nghẹt thở... Biết thế nào?

Nhưng điều lạ lùng ở chỗ, những người "cướp đường" ấy toàn là những khuôn mặt trông rất thông minh, sáng sủa, ăn mặc rất đẹp. Váy ngắn có, váy dài có, sơ mi dài tay có, ngắn tay có, cởi trần có... Các phương tiện thì cũng phong phú và đắt tiền không kém: Từ SH, Libety, Airblade và xoàng xoàng cũng là những anh wave chuồn chuồn...  



Lạ kỳ thay là những khuôn mặt ấy đều rất vô tư và ...tự nhiên cướp phần đường của người khác như không có chuyện gì xảy ra. Và, cũng lạ là không ít trong số đó có nhiều vị cũng tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà giáo, viên chức, cán bộ văn hóa... cả đấy!. 

Nếu trong lúc chen lấn ấy, người đi ngược chiều với họ (tức là những người bị cướp ất phần đường chính đáng) mà có va quệt gì thì... ôi thôi. Không ăn chửi thì cũng ăn cái bạt tai, quả đấm hoặc một cái liếc đầy sát khí... 

Có một số người trong thâm tâm cũng ý thức ra cái sự cướp đường, và dường như họ không muốn làm cái việc khốn nạn ấy, nhưng khốn nỗi, nếu họ cứ chấp hành đúng luật giao thông, đi đúng phần đường của họ thì người đi sau lại tràn lên trên đầu xe, tràn sang phần đường bên kia, có người còn bị tông vào đuôi xe, còn bị mắng là : 

- Thằng thần kinh, sao đi ngu thế?

Kể cũng lạ cho cái giao thông ở đô thị văn hiến, văn minh, văn vật này. Đã đi cướp lại còn được chửi, được mắng người khác. Kẻ ăn cướp còn tự cho mình là đúng...

Tắc đường ở đâu ra? Trong rất nhiều nguyên nhân: Quy hoạch, dân số... thì cái sự cướp đường ấy cũng đóng góp vào cái sự tắc đường của Hà Nội vô cùng lớn lao và ...nhiều vô kể.

Trước đây, tôi có gọi hiện tượng tắc đường, chen lấn nhau là THÓI BON CHEN, nhưng nay do đã thẩm thấu triết học Mác - Lê Nin và nhân sinh quan cách mạng XHCN thì xin gọi những hành động lấn chiếm đường của người khác là CƯỚP ĐƯỜNG. 

Vâng, cướp đường này không cần gọi đến cảnh sát giao thông, cảnh sát 113, cảnh sát hình sự, cảnh sát đặc nhiệm...

Cướp đường này chỉ cần gọi đến VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC và NHẬN THỨC ở mỗi người tham gia giao thông mà thôi!

Nếu những người cướp đường kia không tự ý thức được sự cướp đường của mình, chưa biết xấu hổ về hành vi cướp đường thì  giao thông tắc vẫn hoàn tắc... Người ta vẫn bị cướp một cách ngang nhiên giữa ban ngày ban mặt như báo hiệu một sự xuống cấp của xã hội, của văn hóa, của ý thức và của lương tri. 

Đã là cướp thì dù dưới hình thức nào, kiểu nào cũng là cướp, không thể khác. 


Nguyễn Học - 2011


Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Quảng cáo: Bài viết của Nông dân ra phố

Thời đại bây giờ có quá nhiều chương trình quảng cáo. Nói chung, về cơ bản với tất cả các phương tiện truyền thông, đã quảng cáo là mất tiền. Chỉ có quảng cáo trên blog là không mất tiền, vì mình quảng cáo trên đất nhà mình, cho mình xem. Nói tóm là mình tự sướng.

Thứ hai, thời nay, người ta hay có những PR, quảng cáo trá hình bằng nhiều phương pháp khác nhau. Mình chán ngấy cái trò giả cầy ấy. Quảng cáo thì nói toẹt ra là quảng cáo để bà con biết đường, có gì phải làm giả cầy làm thông tin méo mó và rối rắm.


Giật cái tít quảng cáo, mình muốn giới thiệu cái bài viết về cuốn Nhật kí chiến tranh của Liệt sĩ Trình Văn Vũ.


Bài này mình viết năm 2006- khi mà Quảng Ninh mới tìm thấy và công bố cuốn Nhật kí này. Sau đó Hội VHNT Quảng Ninh có tổ chức Hội thảo - mình cũng oách xà lách về dự và có bài tham luận. Sau đó không lâu tỉnh Quảng Ninh cho in cuốn sách này, và bài tham luận kia của mình cũng được in vào phần 2 của cuốn sách - Những ý kiến về cuốn Nhật kí.


Thật ra, mình cũng chả phải ham hố cái việc quảng cáo, khoe khoang làm gì và cái bài viết ấy cũng theo thời gian chìm vào quên lãng....


Rồi đến tháng 7 năm nay, người ta tái bản cái cuốn Nhật ký chiến tranh ấy, có bổ sung và chỉnh sửa. Hình thức cuốn sách đẹp hơn, dày dặn hơn. Cái bài Cảm nghĩ của mình cũng tái bản theo.


Cũng cần mở ngoặc thêm rằng mình chúa là ghét những cái thể loại sách chiến tranh, Nhật kí chiến tranh mà bị người ta lợi dụng vào đó để làm tuyên giáo và ....


Nói đúng hơn là mình bị cái bệnh "dị ứng tư tưởng" với cái của nợ đó.


Tuy nhiên, với riêng cuốn Nhật ký chiến tranh của liệt sĩ Trình Văn Vũ thì mình lại thích, đơn giản là cuốn này không nằm trong cái thể loại sách ở trên. Vả lại, mình cũng cảm phục liệt sĩ Trịnh Văn Vũ mới hết lớp 7 mà viết được như thế. Ngẫm lại, cái ngữ mình, học hết cấp 3, rồi hết Đại học mà viết lách chả ra cái hồn vía gì, tấy thật hổ thẹn.


Thêm một mở ngoặc nữa là cái bài post ở đây là bài gốc, còn bài đã in trong cuốn sách kia là bài đã được biên tập ngon lành và gọn gàng hơn. Dù sao cũng trân trọng cái "thưở ban đầu" nên để nguyên bản đầu cho quảng cáo ra đây.


Thêm nữa, mình đã dùng chữ Quảng cáo ở trên thì ắt hẳn ai cũng biết, ngày nay cái gì người ta cũng quảng cáo. Nếu như bạn đọc thấy cái bài này không hơn những cái quảng cáo thuốc hôi nách, thuốc bán dạo, thuốc tăng sinh lực cho đàn ông hay các kiểu quảng cáo rởm khác thì cũng là bình thường.


Vì, thường là hàng không bán hoặc ít được biết đến mới cần quảng cáo.


Chỉ có một điều khác ở cái quảng cáo của mình ở đây: Là mình nói thật cái mình nghĩ, chứ không phải nói cái người khác nghĩ hoặc nói theo người khác.


Và đây là Nội dung phần quảng cáo:



Một vài cảm nhận khi đọc Nhật ký chiến trường của liệt sỹ Trình Văn Vũ


Trước hết, chúng tôi xin nói rằng, nhật ký là một tư liệu mà người viết ra nó không phải để nhiều người đọc. Có chăng là để cho chính bản thân họ và người thân yêu nhất? Nó như một cuốn lịch sử tâm hồn của con người theo dòng thời gian.


Nhật ký luôn gắn với những tâm trạng, kỷ niệm buồn, vui, những kỷ niệm và suy nghĩ của con người về con người, về cuộc sống. Đôi khi chúng tôi tự huyễn hoặc mình rằng, những cuốn nhật ký chiến tranh còn lại, liệu có phải là món quà của các liệt sỹ dành cho cả chúng ta không hay chỉ cho một số người?


Vậy, việc công bố và in ấn những tác phẩm nhật ký chiến tranh liệu có... “đi guốc” vào đời tư của người khác, đặc biệt những người đã hy sinh vì dân tộc hay không? Câu trả lời là không, bởi vì, những cuốn nhật ký chiến tranh ở đây ở một bình diện khác. Nhật ký của những liệt sĩ đã hy sinh tuổi thanh xuân cho hòa bình, độc lập của dân tộc không chỉ thuộc về người thân yêu của họ, mà còn thuộc về lịch sử văn hóa, văn học, quân sự, nhân văn của dân tộc Việt Nam.


Bởi, máu các anh đã đổ, đã thấm vào từng mét đất thiêng liêng của đất nước, các anh là dân tộc, những gì của các anh một phần cũng thuộc về Tổ quốc Việt Nam. Gần đây, ngày 23.2.2006 trên báo Người Lao động (bản điện tử là www.nld.com.vn) đăng bài viết “Sách nhật kí thời chiến đã bão hoà?” của tác giả Phương Quyên, (Trên trang báo điện tử www.vnexpress.net, mục Evăn, ngày 25.2, thứ bảy có đăng laị bài này) như muốn chứng minh một điều rằng, xu hướng đọc nhật ký chiến tranh thời chiến không còn.


Và những cuốn nhật ký chiến tranh được in ra nhiều, là sách chạy theo ‘mốt” thời cuộc nhiều hơn là những tác phẩm văn học, lịch sử, cuốn sử tâm hồn của các liệt sỹ có nhiều giá trị.


Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định, giá trị nghiên cứu, giá trị lịch sử của những cuốn nhật ký vẫn còn. Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định đưa ra để tranh luận với tác giả bài báo. Điều chúng tôi muốn nói ở đây là giữa lúc nhật ký chiến tranh được in ấn, giới thiệu nhiều trên phương tiện thông tin đại chúng như vừa rồi, giữa lúc tưởng như độc giả bị “bội thực” món ăn tình thần đó, thì ngay tại nơi tiền tiêu của Tổ quốc, người ta tìm thấy một tập nhật ký chiến tranh rất đặc biệt, được đăng tải dần trên Báo Hạ Long - Cơ quan của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh.


Đó là tập nhật ký chiến tranh của liệt sỹ Trình Văn Vũ, người xã đảo Minh Châu huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Với những gì đã được đăng tải, rõ ràng, nhật ký chiến tranh luôn hấp dẫn bạn đọc và luôn nóng hổi các giá trị lịch sử, văn hóa, văn học, đặc biệt là giá trị tinh thần, hơn là những suy tính về kinh tế, thị trường, kinh doanh văn hóa của một vài nhà xuất bản, một vài nhà làm sách chuyên nghiệp.

 
Hình bìa cuốn Nhật ký chiến tranh của L/s Trình Văn Vũ xuất bản năm 2006

Là độc giả của Báo Hạ Long, tuy không còn sinh sống và làm việc trên mảnh đất anh dũng, kiên cường – vùng Mỏ thân yêu nữa, nhưng chúng tôi vẫn theo dõi Báo Hạ Long đều đặn.


Cần nhấn mạnh rằng, chúng tôi không có ý định bào chữa hay lăng xê cho Báo Hạ Long nhưng theo thiển nghĩ, việc Báo Hạ Long cho đăng tải tập nhật ký của liệt sỹ Trình Văn Vũ là một nghĩa cử cao cả, không vì một chút màng danh lợi hay nói như ngôn ngữ của những người làm báo, làm sách là “ăn theo nhật ký chiến tranh”.


Nói không ăn theo là vì, chúng ta cứ thầm lặng giới thiệu trên báo để độc giả tự cảm nhận và đánh giá, số lượng tia ra của báo không tăng lên – nghĩa là không vì mục đích bán báo, kinh doanh...


Vấn đề chính ở đây là giá trị đích thực của tập nhật ký và niềm tự hào của người dân Minh Châu nói riêng, người dân vùng Mỏ nói chung. Không ăn theo là vì, như chúng ta đã biết, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc được dư luận quan tâm, ngoài nội dung hay thực sự, hấp dẫn và có tính giáo dục cao, thì một phần là do sự quảng bá, tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng, trở thành cả một phong trào, khiến cho người dân mua nhiều, xem nhiều là do tò mò...


Đó cũng là một đặc điểm của văn hóa Việt Nam – Tâm lý đám đông, tò mò. Ở trường hợp nhật ký Trình Văn Vũ, chúng ta không thấy một chiến dịch quảng cáo nào, cũng không rầm rộ, ồn ào, mà như một người con gái đẹp, cứ tự nhiên mà đẹp... Không ăn theo là tập nhật ký không in thành sách nhật ký, theo xu thế thị trường đang được quan tâm...


Hình cuốn Nhật ký chiến tranh tái bản năm 2011


Như chúng ta đã biết, sau thành công của hai tập nhật ký chiến trường ở trên, trên thị trường sách còn vô số tập Hồi ký khác như : Những lá thư thời chiến Việt Nam (NXB Hội Nhà văn) - tuyển tập những bức thư giữ từ chiến tranh do hàng trăm ngàn bạn đọc khắp nơi lưu giữ và gửi đến; Những tấm ảnh trở về - hình ảnh, thư từ, nhật ký chiến tranh của liệt sỹ Nguyễn Văn Giá; Nhật ký Vũ Xuân (NXB Công an Nhân dân); Cùng anh đi suốt cuộc đời - hồi ký của bà Nguyễn An Ninh, đặc biệt nhất là Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn (tên thật của nhà văn Nguyễn Thi) (NXB Hội Nhà văn).v.v...


Cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, việc công bố tập nhật ký này của Báo Hạ Long như một việc làm theo tính tất yếu của lịch sử, của quy luật cái Đẹp chứ không hề chịu chi phối của cái gọi là vấn đề chính trị, “chính em” hay “kinh doanh nhật ký chiến trường” nào...


Bản thân tôi vẫn còn nhớ, và khoảng tháng 9, 10 năm 2005, tại trụ sở Báo Hạ Long- Quảng Ninh, đồng chí Lê Chính và một số văn nghệ sĩ, phóng viên báo Hạ Long hồi hộp và trân trọng ngồi với nhau để đọc cho nhau nghe cùng dòng nhật ký của liệt sỹ Vũ, để cùng chia sẻ và suy ngẫm về một thời đã qua, về một thời của những người anh hùng đã sống và chiến đấu như thế nào. Lúc đó, có chị phóng viên của báo đọc cho cả mấy anh em ngồi nghe, tưởng như chúng ta trở về với thời kỳ chung nhau một cuốn sách, quây quần một người đọc, nào là Tam quốc, Thuỷ hử, nào là Thép đã tôi thế đấy của cái thời chúng ta còn thiếu thốn sách, thiếu thốn thông tin không xa... Tuy không có cơ hội đọc toàn bộ tập nhật ký của liệt sỹ Trình Văn Vũ, nhưng với những di cảo còn lại, chúng ta được thấy dòng máu huyết nóng hổi yêu nước, kiên trung và tâm hồn thơ ca của một người con biển đảo Minh Châu – nơi địa danh gắn liền với lịch sử văn hóa, chiến đấu chống quân Nguyên - Mông và thương cảng Vân Đồn nổi tiếng thời Trần...


Hơn nữa, theo sở kiến của chúng tôi, điều đáng quý và trân trọng trong tập nhật ký của liệt sĩ Trình Văn Vũ chính là tác giả của nó. Anh Vũ xuất thân trong một vùng quê biển đảo, thế mà, trong những năm bom đạn ác liệt, anh viết nên những dòng thời đại, suy nghĩ, cảm xúc... đầy tính triết lý, văn học sâu xa, hàm súc mà giản dị, lắng sâu. Nếu chúng ta đã trở về miền quê Minh Châu, nơi anh Trình Văn Vũ sinh ra và lớn lên mới thấy những dòng nhật ký của anh viết ra thật quý báu, bởi lẽ, ra đi từ một mái tranh nghèo, người dân xã đảo quanh năm chỉ biết có đánh cá, nuôi tôm, thả lưới, sống theo biển và chết cũng theo biển. Cái chữ nghĩa trong xóm nghèo hiếm hoi lắm.


Có phải ai trong làng, xóm cũng được đi học chữ đâu. Từ đất liền ra đảo, nếu đi tàu, chí ít cũng mất 3, 4 tiếng đồng hồ. Thế mà, 23 tuổi đời, anh Vũ đã ghi lại những suy nghĩ, cảm xúc của mình bằng ngôn ngữ thật trong trẻo, mượt mà, đôi lúc rất văn chương, giản dị mà hàm súc. Bây giờ, cái xã đảo Minh Châu tuy đã phát triển, có trường học, đời sống văn hóa có nhiều biến đổi, nhưng nói một cách hơi chủ quan rằng, nếu như những thanh niên tuổi 23 như anh Vũ khó mà viết nổi những áng văn đầy cảm xúc, tinh tế và sắc sảo như thế. Ví dụ như đoạn văn sau đây:


“Xuân sẽ dành thêm cho đất nước một mùa hoa, dành cho con người một tuổi đời dù yên lành hay bão tố... Thời gian vẫn lặng lẽ trôi. Vài ngày nữa sẽ đến Tết Nguyên đán. Điều ấy là một sự vui mừng của dân tộc, và là một nỗi buồn riêng của những người lính xa quê, xa mẹ, ăn những cái Tết xa nhà. Mấy hôm nay, trời vào mùa khô nên rừng khô khan, sạch sẽ, chim chóc vẫn hót ríu rít, duy chỉ có người chiến sĩ thì cảm thấy buồn. Bởi đời luôn dấn thân trong sương gió và bom đạn.” ( Ngày 12 tháng 1).


Là người con của biển, đảo, sinh ra trong mái tranh nghèo, ra đi đánh giặc cứu nước, tự viết cho mình những sự kiện, kỷ niệm, tâm sự buồn vui trong chiến trường, liệt sỹ Trình Văn Vũ không phải con nhà “nòi”, cũng không được giải thưởng văn học toàn quốc như liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc, nhưng những gì liệt sỹ để lại là một pho sử quý, một kho tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu, cho học sinh, sinh viên trên con đường học tập, tìm về những năm tháng hào hùng của dân tộc.


Đó cũng là một bài học về lòng yêu nước và tình yêu thời chiến thuỷ chung, đậm đà, sâu sắc tính nhân văn, công bố thôi, có ai mấy ai đọc lên mà không xúc động, khâm phục, không tự rút ra cho mình một bài học, nghĩ suy về thời cuộc, về cuộc chiến, cả về tình yêu đôi lứa của thế hệ cha, anh chúng ta một thời đã sống và chiến đấu.

Chiến tranh ác liệt, giữa chốn rừng già thăm thẳm, giữa tiếng bom rơi đến chói tai, người thanh niên Trình Văn Vũ cũng có lúc suy tư, trăn trở về tuổi thanh xuân, trách nhiệm của người đàn ông thực thụ trước ngưỡng tuổi 23 của mình:

“Cái tuổi con người thời 23 đáng ra phải là một cương vị ít lo nghĩ cho cuộc sống – Làm cha và chăm sóc cho con cái....lo cho vợ con những phút vui hạnh phúc, đồng thời chăm sóc mẹ cha để đáp lại những ngày tần tảo nuôi mình. Nhưng bây giờ đây, những giây phút ấy vẫn trôi đi một cách phũ phàng..”. (Ngày9.11)



Và, cả những nhận định về cuộc sống tuy bằng ngôn ngữ văn chương, mềm mại nhưng khí phách của người chiến sĩ vẫn kiên cường và bền chặt. Cái yếu tố làm nên bản lĩnh và chí khí của người chiến sỹ cách mạng.


“Đời như dòng nước trên sông cuốn qua bao ghềnh, bao thác, bao bãi dốc gập ghềnh.Trong nơi hỏa tuyến này, ai ai cũng có sự thay đổi đáng kể. Tóc bù xù, mặt mày hốc hác quần áo bẩn nhem nhuốc. Song tất cả đều vui, lạc quan”. (Ngày 16.11)



Có những dòng tổng kết của liệt sỹ Trình Vũ thật giản dị, sâu lắng, nghe rạt rào từng đợt sóng biển quê anh “Sắp hết năm rồi. Đời người chẳng đáng là bao. Thêm một tuổi và đời lại thêm những nốt nhăn trên trán; già cỗi thêm nhiều và dĩ nhiên ¼ đời người trôi đi trong vòng quay đều đều của thế kỷ - chả có nghĩa gì chưa làm được gì và cũng chưa hưởng được gì.... Ôi, một chốc 23 năm trời sương gió. Cái độ trăng tròn là cái độ mang tiềm lực của mộng cống hiến cho sự nghiệp. Ai đã hằng thương tiếc đời mình thì mới thấy cái quãng thời gian trôi đi ấy thật là hoài phí và đầy rẫy những ti tiện nhỏ nhen hèn đớn. Cuộc sống cứ dần trôi, cứ nhích thêm mỗi năm là lại gieo vào lòng người một nỗi chua cay luyến tiếc. Cuộc sống ấy quá đỗi phũ phàng bất hạnh. Những phút này cũng ở lứa tuổi 23, bạn bè ta ai ai cũng hạnh phúc. Nhưng ta, dấn thân vô trên chặng đường cách mạng thì ta càng luyến tiếc và sánh cái gì, miễn là hãy quên đi, làm tròn trách nhiệm của mình và xây đắp cho lý tưởng....”(Ngày 22 tháng 12)



Những luận điểm về chính trị, quan hệ bạn bè trong nhật ký của liệt sỹ Vũ cũng thật đáng quý và vượt lên trên được ý thức thời đại. Cái vấn đề tư tưởng, nhìn nhận, đánh giá đồng đội luôn là vấn đề thể hiện tư cách và lý trí của người chiến sĩ:“Với mình, trong nơi khói lửa này, mình không muốn cứ trong tình trạng cấu xé, hằn học - những ai có thành tích trong chiến đấu đều là những người tốt- Phê phán chẳng qua là nhắc nhở.


Một điều nữa, Sơn (đồng đội của liệt sĩ Vũ - Tác giả chú) thường hay quan hệ với cán bộ cấp trên và bằng những câu chuyện giản đơn hay làm quà mà tất cả những chuyện dù là đùa cợt trong phân đội đều dễ lọt vào tai các thủ trưởng. Sống trong giai đoạn khói lửa sẽ gặp những người có đủ trí thông minh và tài năng để phục vụ cho Đảng. Song nếu nhận xét một cách mù quáng sẽ có những kẻ bằng một dưới dao díp hai lưỡi đâm xé vào người ta những đòn nặng đáng lên án. Đó là những con người thiếu suy nghĩ...” (Ngày 28 tháng 12)



Tuy tập nhật ký chưa được in thành sách, chưa được tuyên truyền, phổ biến mạnh như “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” và “Mãi mãi tuổi hai mươi” của liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc nhưng việc tìm ra tập nhật ký cũng như công bố trên Báo Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh cũng đã là một sự kiện và những giá trị vô song tập nhật kí để lại chính là sự tiếp lửa, tiếp dòng máu yêu nước nồng nàn, xả thân vì dân tộc cho các thế hệ trẻ hôm nay.



Chiến tranh đã qua đi, bao người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống vì nền hòa bình độc lập, bao người đi mãi không về. Những gì các liệt sĩ để lại cho chúng ta hôm nay, chính là những giá trị lịch sử, là bài học sâu sắc cho mỗi người noi theo trong thời đại chúng ta đang thực hiện con đường đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thời kỳ của hội nhập, toàn cầu hóa. 


Xin được học tập theo triết lý sống của liệt sỹ Vũ nơi mưa bom, lửa đạn cho cuộc sống hôm nay “Hãy vui lên sống trọn những ngày mà đời cảm thấy buồn nhất. Dù những ngày ấy là chuỗi thời gian dài dằng dặc, âm thầm chậm chạp trôi đi...”./.

Hạ Long – Hà Nội, tháng Hai năm 2006


Nguyễn Văn Học